Đau ngực: Dấu hiệu, nguyên nhân, chẩn đoán và cách điều trị

Đau ngực: Dấu hiệu, nguyên nhân, chẩn đoán và cách điều trị

Chắc chắn ai cũng đã từng gặp cơn đau ngực ít nhất một vài lần trong đời. Đôi khi nó chỉ thoáng qua nhưng cũng có những cơn đau dữ dội, đau âm ỉ khiến bạn mệt và khó thở. Vậy nguyên nhân, chẩn đoán và cách điều trị đau ngực như thế nào? Lời giải đáp sẽ có trong phần nội dung bên dưới.

Đau ngực là bị gì

Đau ngực là gì?

Đau ngực là cảm giác đau, khó chịu, căng tức ở vùng ngực, giống như có vật nặng đang đè nặng hoặc bóp chặt lồng ngực. Cơn đau có thể xuất hiện với nhiều mức độ khác nhau, có thể đau dữ dội hoặc âm ỉ.

Thời gian đau ngực có thể chỉ trong vài phút, nhưng ở nhiều trường hợp, cơn đau kéo dài đến vài giờ khiến người bệnh càng mệt và khó thở. Bạn có thể bị đau ngực trái hoặc phải, đau ngực giữa, đau ngực trên hoặc dưới. Đôi lúc cơn đau lan ra đến vùng cổ, hàm hoặc xuống cánh tay.

Các vị trí đau ngực

1. Đau ngực trái

Đau ở ngực trái là tình trạng người bệnh cảm thấy bị khó chịu, đau tức ở vùng ngực bên trái. Cơn đau có thể xuất hiện một cách đột ngột và đau dữ dội hoặc bị đau ở ngực trái âm ỉ, dai dẳng. Ngực trái là khu vực chứa nhiều bộ phận quan trọng của cơ thể, trong đó có tim. Chính vì vậy, khi bị đau ngực trái, bạn tuyệt đối không nên chủ quan, vì nó có thể là “hồi chuông” cảnh báo vấn đề về tim mạch.

2. Đau ngực phải

Tình trạng đau ngực phải có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra như do làm việc, tập luyện gắng sức. Các bệnh lý về dạ dày như trào ngược axit dạ dày, ợ chua hoặc viêm khớp cũng có thể gây ra cơn đau ngực phải. Ngoài ra, đau ngực phải còn có thể xuất phát từ nguyên nhân nguy hiểm hơn như do viêm phổi, viêm ở tim,…

3. Đau ngực giữa

Người bệnh thường có cảm giác khó thở, hồi hộp, lồng ngực như bị đè nén, ép chặt khi bị đau ngực giữa. Nếu cơn đau thường xuyên lặp lại là vấn đề đáng lo ngại vì có thể là do tắc nghẽn lưu thông của mạch máu nuôi tim gây ra. Những bất thường ở mạch vành, động mạch xơ vữa,… phần lớn đều sẽ có biểu hiện đau ngực giữa.

4. Đau ngực dưới (vùng thượng vị, trên rốn)

Phần lớn nguyên nhân là do vấn đề ăn uống gây ra các bệnh lý về đường tiêu hóa như viêm dạ dày, trào ngược dạ dày – thực quản, sỏi đường mật hay túi mật, thiếu máu cơ tim… Nhưng để chắc chắn về cơn đau ngực dưới có nguy hiểm gì hay không, bạn vẫn nên đến bệnh viện để kiểm tra.

READ  Cách khắc phục nhũ hoa bị thâm đen

5. Đau ngực trên

Đau ngực trên thường ít gặp hơn. Người bệnh cảm thấy đau và tức ngực, khó thở, cảm giác vướng ở cổ họng hoặc có thể buồn nôn, nôn,…

Dấu hiệu đau ngực

1. Trường hợp đau ngực do tim

Cơn đau ngực do tim thường có những biểu hiện:

  • Đau căng tức ở ngực. Nếu đau nhiều có thể lan ra cả cánh tay, lên cổ, sau hàm hoặc sau lưng.
  • Khó thở, hụt hơi.
  • Choáng váng, chóng mặt.
  • Cơn đau càng dữ dội khi gắng sức làm việc hoặc căng thẳng.
  • Những triệu chứng đau ở ngực có thể giảm dần khi được nghỉ ngơi. (1)
Khi có dấu hiệu đau ngực, người bệnh cần thăm khám để được chẩn đoán và điều trị phù hợp
Khi có dấu hiệu đau ngực, người bệnh cần thăm khám để được chẩn đoán và điều trị phù hợp

>> Xem thêm: Trong trường hợp nhận thấy cơ thể đang có những dấu hiệu đau ngực do tim mạch. Bạn cần đến cơ sở y tế để được khám tim mạch và bác sĩ sẽ chẩn đoán chính tình trạng đang gặp phải có liên quan yếu tố bệnh tim hay không.

2. Các trường hợp đau ngực khác

Bệnh nhân bị đau ngực do các nguyên nhân khác không liên quan đến tim thường có triệu chứng đau ngực dữ dội hơn và cường độ cao hơn. Tuy nhiên, thật khó để nhận biết được ngay cơn đau đó có liên quan đến tim hay không. Các loại đau ngực khác thường có đặc điểm lâm sàng là:

  • Đau tức ở ngực, cảm thấy như bị đau nhói trong vài giây hoặc có khi kéo dài hàng giờ.
  • Khi gắng sức, căng thẳng quá mức, sau bữa ăn lớn thường xuất hiện cơn đau ngực.
  • Đau ngực tăng khi xoay trở, hít thở hoặc đè ấn vùng ngực.
  • Sau khi nghỉ ngơi, cơn đau đôi khi dần thuyên giảm.
  • Đau ngực khi mang thai.

Nguyên nhân gây đau ngực

1. Nguyên nhân do tim

Đau thắt ngực, cơn đau tim, thiếu máu cơ tim, bệnh động mạch vành

Cơ tim không nhận đủ lượng máu cần thiết do mảng xơ vữa trong thành mạch máu, làm hẹp động mạch, ảnh hưởng đến lượng máu cung cấp cho tim. Điều này gây ra những cơn đau thắt ngực, đau có thể lan lên cổ, quai hàm, qua vai, cánh tay.

Xem thêm: Cơn đau thắt ngực ổn định: Nguyên nhân, triệu chứng và điều trị

Lưu lượng máu qua mạch máu ở tim bị giảm sẽ làm ảnh hưởng đến các tế bào cơ tim. Cơn đau tim thường dữ dội và khá nghiêm trọng, có thể kèm theo triệu chứng buồn nôn, khó thở, suy nhược nặng. (2)

Đây là bệnh lý do các mảng xơ vữa làm nghẽn mạch máu vành tim khiến cơ tim bị thiếu dưỡng khí. Khi lượng máu và oxy đến tim bị giảm sẽ gây ra cơn đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim và làm tổn thương đến tim. Nếu lớp trong cùng của thành động mạch vành bị rách, máu sẽ thấm qua, tích tụ lại và gây phình, cũng dẫn đến cơn đau tim.

Đau ngực có thể là dấu hiệu bệnh mạch vành và các bệnh tim mạch
Đau ngực có thể là dấu hiệu bệnh mạch vành và các bệnh tim mạch

Viêm màng ngoài tim, cơ tim

Chủ yếu là do nhiễm virus gây viêm túi xung quanh tim hoặc cơ tim. Viêm màng ngoài tim, cơ tim có thể dẫn đến: đau ngực dữ dội phía sau xương ức, chèn ép tim, tích tụ dịch quanh tim, sốc tim và thậm chí tử vong.

Bệnh cơ tim phì đại

Bệnh cơ tim phì đại phần lớn là do di truyền khiến cơ tim bị dày bất thường. Người bệnh thường cảm thấy đau ngực, chóng mặt hoặc ngất xỉu khi vận động, tập luyện thể dục. Bệnh cơ tim phì đại có thể dẫn đến suy tim nếu để lâu không điều trị.

Bóc tách động mạch chủ

Triệu chứng điển hình trong bóc tách động mạch chủ là xuất hiện cơn đau dữ dội trước tim, vùng ngực giữa và đau lan ra sau lưng, vùng giữa các xương bả vai. Cơn đau như xé ra, thường xuất hiện đột ngột, đau dữ dội và kéo dài liên tục.

READ  Danh sách hình ảnh xinh đẹp của hot girl Trung Quốc

Phình động mạch chủ

Thành động mạch bị suy yếu dẫn đến sự giãn nở bất thường, gây phình động mạch chủ. Từ đó, có thể lớp áo trong của mạch máu có thể bị bóc tách, xé rách gây ra cơn đau ngực, thiếu máu cơ quan, tạo huyết khối, có thể khiến động mạch chủ bị vỡ, nguy cơ dẫn đến tử vong.

Sa van 2 lá

Bờ van hai lá sa vào tâm nhĩ trái trong suốt thời gian đoạn tâm thu gọi là sa van hai lá. Sa van hai lá thường không có triệu chứng đáng kể, nhưng đôi khi nó vẫn gây ra cơn đau ngực, khó thở, đánh trống ngực, chóng mặt.

2. Nguyên nhân do tiêu hóa

Trào ngược dạ dày thực quản

Lượng axit dư thừa cùng với một phần thức ăn chưa được tiêu hóa hết bị trào ngược trở lên trên thực quản và gây ra một số triệu chứng như: ợ hơi, ợ chua, buồn nôn, ho, khàn tiếng, đau tức ngực,…

Các vấn đề về tiêu hóa có thể gây ra cơn đau ngực
Các vấn đề về tiêu hóa có thể gây ra cơn đau ngực

Loét dạ dày

Khi niêm mạc dạ dày bị tổn thương, xuất hiện các vết viêm loét, người bệnh có thể phải đối mặt với các triệu chứng như: đau bụng, buồn nôn, nôn, cảm giác khó chịu, đau ở ngực,…

Co thắt cơ trong thực quản

Các triệu chứng của co thắt cơ trong thực quản không điển hình nên thường dễ bị nhầm lẫn với các bệnh lý đường tiêu hóa khác. Có thể nhận biết thông qua một số dấu hiệu như: khó nuốt, cảm giác như thức ăn bị vướng lại ở cổ họng, đau ngực.

Viêm thực quản

Lớp niêm mạc của thực quản bị tổn thương, gây sưng viêm khiến người bệnh khó nuốt, đau khi nuốt, nóng rát ngực, đau ngực. Nếu cơn đau ngực xuất hiện với cường độ cao, kéo dài cùng với các triệu chứng khác trở nên nặng hơn thì bạn nên đến bệnh viện để kiểm tra sớm.

Sỏi mật

Điều đáng lo ngại nhất khi bị sỏi mật là đến khi túi mật bị viêm thì người bệnh mới nhận thấy một số triệu chứng như: cơn đau đến đột ngột ngay dưới xương sườn bên phải, buồn nôn, đổ mồ hôi, sốt, rét run,…

Thoát vị hiatal

Loại thoát vị này khá phổ biến với các triệu chứng gồm: đau ngực, trào ngược, ợ nóng. Nhưng cũng có những trường hợp thoát vị hiatal không gây ra bất kỳ triệu chứng nào.

Viêm dạ dày

Viêm dạ dày gây ra những cơn đau ở vùng thượng vị, buồn nôn, chán ăn, ợ hơi, ợ chua, khó chịu bụng. Bệnh không chỉ gây đau, ảnh hưởng đến ăn uống, sinh hoạt mà còn có nguy cơ dẫn đến các biến chứng nguy hiểm khác.

Viêm tụy

Hầu hết những người bị viêm tụy cấp hoặc mạn tính đều có những biểu hiện như: cơn đau xuất hiện đột ngột ở vùng bụng trên, có thể lan ra sau lưng; buồn nôn; chướng bụng; nhịp tim nhanh; tiêu chảy; phân có mỡ,…

3. Nguyên nhân do phổi

Thuyên tắc phổi

Cục máu đông theo máu trôi đến phổi và bị mắc lại trong phổi, gây ra một số triệu chứng như: đau ngực khi hít vào, hụt hơi, ho ra máu, đau lưng, đổ mồ hôi, chóng mặt,… (3)

Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD)

Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD) là do cơ thể tiếp xúc với các chất khí, vật gây kích thích trong thời gian dài, thường là khói thuốc lá. Người bệnh COPD có thể gặp các triệu chứng bao gồm: khó thở, ho, tiết đờm, thở khò khè, ho nặng có thể gây đau tức ngực.

READ  Thắc mắc: Tiêm filler da có bị chảy xệ không?

Viêm phổi

Viêm phổi do vi khuẩn hoặc virus có thể gây ra các cơn đau nhói ở ngực, nhất là khi hít thở sâu hoặc ho. Ngoài ra, người bệnh còn có thể bị sốt, hụt hơi, buồn nôn, chán ăn,…

Viêm màng phổi

Khi bị viêm màng phổi, người bệnh cảm thấy đau nhói ngực khi thở, ho hoặc hắt hơi. Đau ngực do viêm màng phổi chủ yếu xuất phát virus, vi khuẩn, do thuyên tắc phổi, tràn khí màng phổi.

Tràn khí màng phổi

Khi bị chấn thương ở ngực, một phần phổi bị xẹp xuống khiến không khí tràn vào khoang ngực. Điều này dẫn đến cơn đau ngực, đau nhiều hơn khi thở.

Đau ngực cũng có thể xuất phát từ các bệnh lý ở phổi
Đau ngực cũng có thể xuất phát từ các bệnh lý ở phổi

Tăng áp động mạch phổi

Nguyên nhân gây đau ngực xuất phát từ phổi có thể kể đến tình trạng tăng áp động mạch phổi. Áp lực động mạch phổi tăng khiến tim phải làm việc quá sức và gây ra cơn đau tức ngực, khó thở, ho.

4. Nguyên nhân do cơ xương khớp

Viêm sụn sườn

Viêm sụn sườn có thể gây đau đột ngột ở ngực. Cơn đau trở nên nặng hơn khi người bệnh nằm, hít thở sâu, ho, hắt hơi, vận động mạnh,…

Bong gân cơ ngực

Một số trường hợp ho quá mạnh có thể làm tổn thương đến các cơ và gân giữa các xương sườn và gây đau ngực.

5. Các vấn đề khác

Các nguyên nhân khác gây đau ngực như: bị hoảng loạn, lo lắng, stress quá mức, ung thư phổi, hen suyễn,….

Phương pháp chẩn đoán cơn đau ở ngực

Qua khai thác bệnh sử, triệu chứng của người bệnh, bác sĩ có thể chọn một số phương pháp kiểm tra xác định nguyên nhân gây đau ngực như:

  • Điện tâm đồ
  • Xét nghiệm máu
  • X-quang hoặc chụp cắt lớp vi tính lồng ngực
  • Nghiệm pháp gắng sức
  • Siêu âm tim
  • Chụp lớp cắt vi tính động mạch vành
  • Chụp cộng hưởng từ
  • Nội soi
Siêu âm tim gắng sức xe đạp là một trong những phương pháp chẩn đoán cơn đau ngực
Siêu âm tim gắng sức xe đạp là một trong những phương pháp chẩn đoán cơn đau ngực

Đau ngực kéo dài có nguy hiểm không?

Nếu cơn đau ngực kéo dài, không có dấu hiệu giảm khi đã nghỉ ngơi, bạn nên đến bệnh viện ngay. Bởi vì đau ngực là triệu chứng của nhiều bệnh lý trong đó có nhồi máu cơ tim. Đau ngực kéo dài gây ra những biến chứng nguy hiểm, nhất là nếu dấu hiệu đó có liên quan đến bệnh lý tim, phổi.

Khi nào cần gặp bác sĩ?

Bạn nên đến gặp bác sĩ ngay để được kiểm tra nếu cơn đau ngực xuất hiện đột ngột, không thuyên giảm sau khi đã dùng thuốc hoặc nghỉ ngơi. Nếu có thêm một số triệu chứng khác như buồn nôn, chóng mặt, huyết áp thấp, sốt, ớn lạnh,… bạn nên đến bệnh viện ngay để được chẩn đoán và can thiệp kịp thời.

Phương pháp điều trị tình trạng đau ngực

Dựa vào từng nguyên nhân gây đau ngực, bác sĩ sẽ đưa ra phương pháp điều trị phù hợp như:

  • Sử dụng thuốc kháng kết tập tiểu cầu;
  • Thuốc chẹn beta;
  • Nitroglycerin và thuốc chẹn kênh canxi để kiểm soát triệu chứng;
  • Thuốc ức chế men chuyển;
  • Tái thông mạch vành nếu triệu chứng vẫn tồn tại khi điều trị nội khoa tối ưu;
  • Điều trị bằng cách khắc phục các yếu tố nguy cơ như khói thuốc, tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu.

Cách phòng ngừa đau ngực

Để phòng ngừa đau ngực, mỗi người nên thay đổi thói quen và điều chỉnh lối sống như:

  • Xây dựng chế độ ăn uống khoa học;
  • Tập thể dục đều đặn;
  • Không hút thuốc lá, hạn chế rượu bia;
  • Tránh căng thẳng quá mức;
  • Duy trì cân nặng hợp lý;
  • Nếu nhận thấy cơn đau tức ngực hoặc vấn đề về tim, cần đến bệnh viện kiểm tra ngay. (4)

Đau ngực có thể là dấu hiệu cảnh báo bệnh tim mạch hoặc các bệnh lý phổi, dạ dày – thực quản… Do đó, những người có yếu tố nguy cơ kể trên nên chủ động kiểm tra sức khỏe định kỳ, sớm phát hiện và can thiệp kịp thời.