TRUYỆN KIỀU VÀ TIỂU THUYẾT TÀI TỬ GIAI NHÂN TRUNG QUỐC | Trần Đình Sử

Trần Đình Sử

Ở Việt Nam đã có những công trình nghiên cứu Truyện Kiều trong thể loại truyện Nôm, đã có ý kiến so sánh Truyện Kiều với truyền thống tiểu thuyết Trung Quốc như Tam Quốc diễn nghĩa, Thuỷ hử, Hồng Lâu mộng, so sánh Truyện Kiều với các truyện viết về Thuý Kiều ở Trung Quốc, nhưng chưa thấy có tài liệu xem xét Truyện Kiều trong dòng tiểu thuyết “tài tử – giai nhân”, một hiện tượng văn học đáng chú ý của văn học Trung Quốc, đã có ảnh hưởng đáng kể tới văn học Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên và ít nhiều có tính loại hình đối với các nền văn học các nước ấy.

Tiểu thuyết tài tử – giai nhân là dòng sáng tác phát tích từ tiểu thuyết đời Đường, như Li hồn truyện của Trần Huyền Hựu, Liễu Thị truyện của Hứa Nghiêu Tá, Oanh Oanh truyện của Nguyên Chẩn, Vô song truyện của Tiết Điều, dưới hình thức truyện ngắn truyền kỳ, nhưng thực sự hình thành từ cuối đời Minh đến đời Thanh, thịnh hành vào thời Khang Hy, Ung Chính, Càn Long (thế kỷ XVII – XVIII), rồi sau đó suy thoái, chuyển hoá thành loại tiểu thuyết tình của phái “Uyên ương – hồ điệp” đầu thế kỷ XX. Ba đời vua Thanh trên đây là thời kỳ thống trị tàn bạo nhất đối với giới văn hoá, trí thức, cho nên thịnh hành khuynh hướng “thương tài” là dễ hiểu. Thành tựu của dòng này là không đáng kể trong rừng rậm tiểu thuyết Trung Quốc, song nó đóng vai trò bước đệm của quá trình chuyển hoá từ Kim Bình Mai đến Hồng Lâu mộng. Nó có nhiều nhược điểm, song cũng có nhiều cái mới, do vậy mà có ảnh hưởng tới văn học các nước lân cận.

Đây là loại tiểu thuyết chương hồi thông tục, đại chúng loại nhỏ và vừa, khoảng từ 16 đến 20 hồi, tổng cộng trên dưới 50 bộ. Một số trong đó được chú ý như Ngô giang tuyết, Ảo trung chân, Vân Tiên tiếu, Kinh mộng đề, Uyên ương phối, Ngọc Kiều Lê (còn gọi là Song mỹ kỳ duyên), Bình Sơn Lãnh Yến, Phi Hoa Vịnh tiểu truyện, Lưỡng giao hôn tiểu truyện, Định tình nhân, Lân nhi báo, Nhân gian lạc, Hảo cầu truyện, Kim Vân Kiều truyện… Trong số này, Lân nhi báo, Kim Vân Kiều truyện không còn thuần tuý tiểu thuyết tài tử giai nhân, mà đã chuyển sang loại “tiểu thuyết nhân tình” có khuynh hướng viết những điều mắt thấy tai nghe đời thường, có khuynh hướng hiện thực.

Hầu hết những truyện trên đều có tính chất công thức khuôn sáo. Có người đã mô hình hoá cốt truyện của loại truyện này như sau:

Một công tử tuổi trẻ tài cao, bảy bước nên thơ, chọn bạn tình khắt khe nên hai mươi tuổi mà chưa có vợ. Một hôm đi chơi bỗng gặp một cô nương sau khóm hoa ở một vườn nọ, đẹp như người trời. Bắt chuyện với nàng, nàng bẽn lẽn không dám ngẩng mặt, chỉ lặng lẽ đắm đuối nhìn theo. Làm thơ gửi tặng thì nàng không từ chối, hai người bèn cùng nhau đính ước trăm năm. Nàng là con gái nhà quan, tuổi vừa đôi tám, xinh đẹp thông minh, giỏi làm thi từ, chỉ mong gặp người tài tử. Nay thấy chàng phong lưu tuấn dật, tự mừng như gặp được vàng. Bỗng một gian thần nghe tiếng người đẹp, trăm phương nghìn kế ép gả cho con trai mình, bày đặt nhiều cách hãm hại. Đôi tình nhân đau khổ, chia ly, lưu lạc. Sau nhờ chàng công tử đỗ được trạng nguyên, gian thần bị trị, được vua ra thánh chỉ cho phép kết hôn cùng ý trung nhân. Chàng có ba con, huệ lan sực nức, vợ chồng cùng thọ tới tuổi 90, không bệnh mà chết. Thật là một mối tình duyên lý tưởng!

Truyện nào hầu như cũng có trai gái định tình, tiểu nhân phá hoại, cuối cùng đoàn viên. Thường thì một chàng hai nàng, như tài tử Tô Hữu Bạch sánh với nàng Bạch Hồng Ngọc và Lư Mộng Lê trong Ngọc Kiều Lê, tài tử Liễu Hữu Mai sánh với hai nàng Mai Như Ngọc và Tuyết Thụy Vân trong Phi hoa diễm tưởng, tài tử Tưởng Nham sánh với Hoa Nhu Ngọc và Viên Thu Thiềm trong Hồ điệp môi, Kim Trọng sánh với hai chị em Thuý Kiều, Thuý Vân trong Kim Vân Kiều truyện,v.v…

Lấy truyện Định tình nhân, 16 hồi, tác giả không rõ,lưu hành khoảng cuối Minh đầu Thanh được Nguyễn Hữu Hào chuyển thành Truyện Song Tinh mà xét, cốt truyện cũng không ngoài công thức đó: một đôi trai gái tài, sắc, thuộc gia tộc thượng lưu, yêu nhau, nhưng chưa thành vợ chồng thì cả hai đều bị những người có quyền ép gả cho người khác. Chàng Song Tinh phải đi sứ hải ngoại. Nàng Nhụy Châu phải ghi tên vào sổ cung tần cho nên nhảy xuống sông tự vẫn. May nhờ uy đức của nhà vua, trai được trở về yên ổn. Lại nhờ thần minh phù hộ, gái được cứu sống. Cuối cùng trai gái gặp nhau, xây dựng gia đình sung sướng(1).

Truyện Ngọc Kiều Lê 20 hồi, đầu đời Thanh được Lý Văn Phức chuyển thành truyện Nôm Ngọc Kiều Lê, kể chuyện Bạch Hồng Ngọc là con gái một trung thần, tài mạo song toàn cùng em họ là Lư Mộng Lê, một tuyệt thế giai nhân, cùng Tô Hữu Bạch, con trai một nhà dòng dõi, thường bị chèn ép trong các cuộc thi thơ. Nhờ thị tỳ mai mối, Hồng Ngọc và Hữu Bạch đính ước với nhau. Sau gian thần ép Hữu Bạch phải lấy con gái hắn, Hữu Bạch bỏ trốn, giữa đường gặp Mộng Lê đang đóng giả trai để đi học, kết làm bạn thơ. Cuối cùng Hữu Bạch thi đỗ, cưới cả hai nàng làm vợ(2). Cả hai truyện đều theo một công thức như nhau.

Tuyệt đại bộ phận các nhà nghiên cứu Trung Quốc từ trước đến nay chưa bao giờ đánh giá cao loại tiểu thuyết này. Trong bài trước chúng tôi đã dẫn ý kiến của Lỗ Tấn và Tào Tuyết Cần. Nay xin dẫn ý kiến của nhà nghiên cứu hiện đại – Lư Hưng Cơ – nhận xét rằng, “tiểu thuyết tài tử – giai nhân là sự báo hiệu cho sự ra đời của tiểu thuyết về tình người (nhân tình tiểu thuyết) như Hồng Lâu mộng sau này, nhưng do chưa có sáng tạo mới về nghệ thuật, vẫn mang nhiều công thức cứng nhắc nên không được ưa chuộng”(3). Châu Vĩ Dân thì cho rằng loại tiểu thuyết này thường thiếu điểm nhìn nghệ thuật cố định, thiếu mạch lạc nhất quán trước sau, cốt truyện cố ý sử dụng nhiều yếu tố ngẫu nhiên, trùng hợp, hiểu lầm, thiếu cơ sở đời sống cho nên không tạo được cảm giác chân thực. Đó là những thiếu sót nghiêm trọng về nghệ thuật”(4). Đó là chưa kể về mặt tư tưởng cũng có mặt thủ cựu, truyện tài tử giai nhân thường bắt đầu từ nam nữ thấy nhau, tình yêu sét đánh, tưởng có thể vượt qua lễ giáo đến với hôn nhân tự do. Nhưng nhiều truyện thường kết thúc bằng việc vua truyền thánh chỉ cho đôi trẻ thành hôn. Như Truyện hảo cầu, Thiết Trung Ngọc và Thuỷ Băng Tâm, một tài tử giai nhân giữ đúng lễ giáo, xứng danh “hảo cầu”, không có giá trị phản phong kiến.

Quả vậy, đây là loại tiểu thuyết có rất nhiều nhược điểm về nghệ thuật. Ngoài cốt truyện công thức, sơ lược như vừa nói trên, cách miêu tả nhân vật cũng khuôn sáo. Chẳng hạn tả tài tử thì: “Dáng dấp thư sinh, tuổi vừa đôi tám, tinh thần sáng láng, áo mặc khói xuân, dáng quỳnh trắng trẻo, bóng ngọc ngời ngời” (Ngọc Kiều Lê). Tả giai nhân thì: “Thân như liễu yếu, mặt tựa phù dung, một đoá anh đào xinh xẻo chưa lộ hai hàng răng ngọc, hai đôi cánh sen, buông chùng tám bức quần tương. Khi thẹn thùng, thu ba khẽ hé, khi buồn rầu biếng chải tóc mai, mày ngài mới xanh, má đào mới đỏ, nếu không phải là thần nữ chốn Dao đài, thì cũng là thiên nga xuống tắm vậy” (Xảo Liên Chu).

Tuy vậy khi xét đặc điểm của một dòng tiểu thuyết ta không thể bỏ qua quan niệm về con người và cuộc đời ở trong đó. Tư tưởng chủ đạo của tiểu thuyết tài tử – giai nhân là đề cao tài tình. Thiên Hoa Tàng chủ nhân(5), người nhiệt tình bình luận, viết tựa, cổ suý cho loại tiểu thuyết này nói: “Trời cho con người ta cái tính, hiền ngu tuy khác nhau, mà trung hiếu tiết nghĩa thì không thể thiếu, riêng có tài tình thì người có kẻ không”. Trong số người tài ấy, trừ số ít được hiển quý đạt quan, còn phần nhiều đều cùng đồ liêu đảo, tiều tuỵ mà chết, không biết trách ai. Do vậy, “cảm cái ý sinh tài của trời đất, nối cái chí yêu tài kim cổ mà tác giả sáng tác loại tiểu thuyết tài tử – giai nhân để bù đắp, an ủi những người tài mà không may gặp cơn khảm kha bất hạnh”(6). Tách người tài tình khỏi trung, hiếu, tiết, nghĩa để mà thương xót người tài tình, là một bước tiến trên lịch trình nhân đạo hoá văn học, đề cao cá tính, ngợi ca khát vọng hạnh phúc cá nhân. Và với thế giới quan trung đại người ta cũng chỉ có thể giải thích hiện tượng đó là do “tạo vật đố tài”, “hồng nhan bạc mệnh”.

READ  See Off Là Gì? Một Số Cụm Từ Đồng Nghĩa Với See Off

Ta hãy xem quan niệm về người tài tử. Ở đây trong bài tựa viết cho Bình Sơn Lãnh Yến, Thiên Hoa Tàng chủ nhân nói: “Tài tử là người có hai con mắt nhìn xuyên sáu cõi, một tấm lòng để suốt nghìn thu, khi đặt bút viết thì mưa sa gió táp, khi mở miệng thì tú đoạt sơn xuyên, mỗi khi gặp xuân hoa thu nguyệt thì lâm ly cảm khái”. Đây sẽ là ý mà sau này Mộng Liên Đường chủ nhân sẽ mượn để khen Nguyễn Du, và dĩ nhiên xem Tố Như là một tài tử. Tài đây là năng lực biểu hiện của tình, còn tình là sự cảm thông, xúc động với thế giới. Do vậy tài và tình không tách rời nhau, tình nhờ tài mà được biểu hiện. Trong bài tựa viết cho truyện Lưỡng giao hôn tiểu truyện, Thiên Hoa Tàng chủ nhân nhấn mạnh: “Cái sắc sở dĩ là sắc tất phải nhờ cái tài để thành tài rồi sau đó cái đẹp mới không mai một được. Nếu không thế thì tại sao người đẹp hiếm chi mà một khi chết xuống liền tịch mịch vắng vẻ. Cái gọi là người đẹp còn đâu. Cho nên khuếch trương cho sắc thì phải luôn dựa vào tài”. Người đẹp không chỉ ở nơi dung mạo mà còn phải xuất chúng về mặt thi từ. Xem thế thì thấy quan niệm người tài tử tuy mang nội dung khá hạn hẹp nhưng đó là một quan niệm về con người có cá tính.

Đối lập với kẻ tài tình là xã hội thế thái nhân tình với cuộc sống hàng ngày, khác với các truyện lịch sử hay anh hùng, truyền kỳ, thần linh quái dị. Do vậy, nội dung thường đóng khung trong phạm vi nhỏ hẹp, tư tưởng nghèo nàn. Nó bằng lòng với trung, hiếu, tiết, nghĩa, cốt sao thoả được tài tình. Nhưng một khi đã không băn khoăn về xã hội, mà lại muốn thoả mãn tài tình thì đành mượn giải pháp ở thuyết nhân duyên nhà Phật và nguyên tắc khuyến thiện, trừng ác, thiên nhân cảm ứng. Với các tư tưởng này các tác giả tha hồ tạo ra các tình tiết ngẫu nhiên, ly kỳ theo kiểu người vô tình mà trời hữu ý. Đây là cội nguồn của các tình tiết giả tạo. Đặc điểm nổi bật của cốt truyện tài tử – giai nhân là nhiều quanh co uẩn khúc, nhiều sự kiện đày đoạ, giày vò tàn nhẫn đối với con người tài tình, Thiên Hoa Tàng chủ nhân trong lời tựa viết cho Phi Hoa Vịnh tiểu truyện có nói: “Nếu hoa lan giấu trong lũng vắng, ngọc tốt mà cất trong núi sâu thì ai biết đâu? Đào Nguyên kia phải nhờ ngư phủ dẫn lối, mà muốn ngư phủ dẫn lỗi thì phải có suối hoa đào”. “Vàng không luyện sao biết vàng cứng, trầm không đốt sao biết trầm thơm”. Do đó phải trăm giày nghìn xéo, biến hoá đa đoan bi hoan ly hợp thì mới đúng là truyện tài tử – giai nhân vậy. Hoá ra tai ách được hiểu như một phương tiện làm cho người tải tử giai nhân nổi tiếng. Hiểu như vậy thì tai ách không còn có ý nghĩa tố cáo xã hội nữa.

Khái niệm người tài, tài tử ở đây chỉ là một ước lệ hình thức, mang nội dung hạn hẹp, không có nhiều ý nghĩa (tài chủ yếu là làm thơ giỏi, đánh đàn hay).

Tuy vậy, kế thừa các truyền thống lớn của tiểu thuyết Trung Quốc từ truyền kỳ đời Đường, tiểu thuyết thế sự Kim Bình Mai, tiểu thuyết anh hùng Tam Quốc diễn nghĩa, tiểu thuyết tài tử – giai nhân kết hợp được yếu tố “kỳ”, “xảo”, yếu tố con người đời thường, yếu tố cơ trí, mưu mẹo với yếu tố giáo huấn, khuyến thiện, trừng ác. Yếu tố “kỳ” chủ yếu thể hiện ở sự việc khác thường, yếu tố “xảo” giải quyết vấn đề kết cấu (báo mộng, ngẫu hợp), yếu tố mưu mẹo, cơ trí tạo thành tính hấp dẫn, chỉ có yếu tố con người đời thường đem lại hai hệ quả mới: tăng cường miêu tả chi tiết cụ thể và đã chú ý miêu tả tâm lý con người. Các yếu tố này biểu hiện đặc biệt nổi bật trong Kim Vân Kiều truyện. Yếu tố kỳ thể hiện ở việc báo mộng, hiển linh, chết đứng, Giác Duyên đóng bè vớt người, đạo sĩ xuống cửu tuyền tìm người… Yếu tố cơ trí mưu mẹo càng nổi bật làm cho truyện hấp dẫn: mưu mẹo thu xếp việc bán mình, mưu đà đao của Sở Khanh – Tú Bà, mưu của Vệ Hoa Dương, mưu của mẹ con Hoạn Thư, mưu của Hồ Tôn Hiến… Yếu tố giáo huấn thể hiện ở cái chí treo gương bất hủ của Kiều. Yếu tố miêu tả, phân tích tâm lý cũng có chỗ đặc sắc. Chẳng hạn, cuộc đánh ghen của Hoạn Thư là một cuộc hành hạ về tâm lý, chứ không phải hành hạ thể xác như đánh dập, gọt tóc, mắng chửi… Và thông qua tiệc rượu tẩy trần để phơi bày tâm lý khác nhau của ba nhân vật Thúc Sinh, Thuý Kiều, Hoạn Thư, mà bề ngoài xem như một cuộc tẩy trần bình thường. Phân tích tâm lý đòi hỏi phải miêu tả chi tiết cụ thể, nhỏ nhặt, và nhiều chỗ Thanh Tâm tài nhân cũng đạt được việc lấy tâm trạng mà soi sáng hành động: tâm trạng Mã Giám Sinh, tâm trạng Hồ Tôn Hiến, tâm trạng Thuý Kiều. Chẳng hạn, trên tiệc tẩy trần, khi phải nép mình hầu hạ, làm theo mọi đòi hỏi của Hoạn Thư, Thuý Kiều không chỉ vâng phục, cam chịu, mà còn căm hờn, và một lời độc thoại xuất hiện: “Riêng phần Thuý Kiều, lúc ấy muốn tiến không được, muốn thoái không xong, trong bụng rủa ngầm: Tiểu thư, tiểu thư, mi thực là con đố phụ hiểm độc! Ví thử người khác đánh ghen, chẳng qua mắng chửi tranh giành, nhưng phần ngôi thứ vẫn thế, vẫn là vợ thiếp, còn được phân giải đôi lời, mà đức phu quân cũng còn bênh vực cho nửa tiếng. Thế mà mi dùng phương kế hiểm độc, mượn thế mẹ đẻ bắt cóc ta về, đem ghép vào hạng nữ tỳ, khiến cho vợ chồng gặp nhau không dám nhìn nhận, có tình không dám tỏ tình. Mi có biết không: Hai chúng ta đây, tình nóng như lửa, mà đem con mắt lạnh lùng đối đãi, vẫn chỉ một mực cười đùa giận mắng. Sao mi chẳng nói toạc ra: Chính ta bức tử người khác rồi đó? Lúc sống ta không báo thù được lòng cay độc của mi, lúc chết ta sẽ hoá làm ma quỷ để mà nuốt sống hồn phách của mi mới hả”(7).

Đặc biệt trong việc miêu tả tâm lý con người, Thiên Hoa Tàng chủ nhân chủ trương khắc hoạ những “u tình”, tức là những tình cảm thầm kín, khó nhận, dễ hiểu lầm, để bênh vực cho con người. Trong bài tựa viết cho Kim Vân Kiều truyện, ông viết: “Chớ đổ càn tiếng xấu cho người ta khi chưa biết rõ tình hình, không xét rõ chỗ ẩn vi. Đại phàm hễ thân tránh khỏi mà tâm bị nhục, thì trinh mà hoá dâm vậy; hễ thân bị nhục mà tâm tránh khỏi thì dâm mà hoá trinh vậy. Danh giá trong đó chỉ có trời biết và chỉ có thể thực hiện trọn vẹn tính trời, chứ khó mà nói được với hạng người tô vẽ danh tiết, đức hạnh bề ngoài vậy… Nếu lấy thường tình của thế tục, chỉ nhìn thấy cảnh ngộ mà không xét kỹ gốc ngọn, rồi bảo: đó là hành vi đê tiện làm nhơ nhuốc con người, thì tôi đây sẽ vì điều đó mà khóc than thảm thiết trong nghìn xưa vậy”. Tác giả phân biệt tâm và thân, chú trọng chỗ u tình của tâm, cho nên mới yêu cầu một con mắt nhìn xuyên sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt nghìn thu. Đó là một quan niệm nhân đạo đối với con người, một ý thức về thế giới tâm lý như một hiện tượng độc lập. Việc khai thác sự khác biệt thân và tâm, bên trong và bên ngoài là một yêu cầu của phân tích tâm lý. Xét riêng về mặt quan niệm này, một số tiểu thuyết tài tử – giai nhân trên một vài điểm tỏ ra là một bước tiến so với loại tiểu thuyết chương hồi kiểu Tam Quốc diễn nghĩa, Thuỷ hử. Loại tiểu thuyết này miêu tả tâm lý như là một hiện tượng ngoại hiện. Chẳng hạn “Lỗ Trí Thâm nhổ ngược cây thuỳ liễu”, “Trương Phi quát to”, “Hạ Hầu Kiệt sợ hãi, gan mật vỡ ra, ngã vật xuống chân ngựa”. Tiểu thuyết tài tử – giai nhân đã bước đầu ý thức được có một đời sống nội tâm thầm kín, song việc miêu tả chưa nhất quán và ít thành công.

READ 

Việc miêu tả đời thường dẫn đến sự quan tâm đời sống tình dục và các sinh hoạt khác, bắt đầu từ Kim Bình Mai. Theo thống kê của Từ Hân, tiểu thuyết Trung Quốc có miêu tả trực tiếp tới đời sống tình dục gồm 112 bộ(8), trong đó có nhiều tác phẩm thuộc loại tiểu thuyết tài tử – giai nhân như Vân Tiên tiếu, Kim Vân Kiều truyện, Kinh mộng đề, Uyên ương phối… Đoạn kể “vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề” ở Kim Vân Kiều truyện là như vậy. Đó là một biểu hiện của thị hiếu thị dân.

Cũng cần lưu ý là càng tiến gần tới các chi tiết đời sống sinh hoạt thường nhật thì tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân càng giảm bớt màu sắc tài tử giai nhân vốn đậm chất mơ mộng và lý tưởng hoá. Việc Nguyễn Du gia tăng yếu tố quí phái, việc nắn lại tính cách Kim Trọng trong Truyện Kiều sau này chính là làm cho tác phẩm có tính chất tài tử – giai nhân hơn.

Tóm lại, bước tiến của tiểu thuyết tài tử – giai nhân là một bước tiến nửa vời. Về nghệ thuật, nó chưa đột phá được giới hạn của tiểu thuyết cũ, về tư tưởng cũng chưa có một quan niệm con người thực sự dân chủ. Chính vì vậy mà nó sớm suy thoái và bị vượt qua. Nhưng cái đáng chú ý của nó là thoát khỏi cái khung diễn nghĩa lịch sử, hướng về đời thường với những quan hệ người và người trong sinh hoạt, đặc biệt là tình yêu tự do. Điều đó đã làm cho loại tiểu thuyết này có một ảnh hưởng rộng rãi, đặc biệt ở nước ngoài như Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam.

Mặc dù từ thế kỷ XVII nhà văn Kim Vạn Trọng (1637-1692) đã sáng tác những tiểu thuyết bằng tiếng Triều Tiên kể về những mối tình trắc trở như Tạ thị nam chinh ký, Cửu Vân mộng, Ngọc lâu mộng, song hứng thú chủ yếu ở nơi mưu mẹo, pháp thuật ly kỳ, dấu vết ảnh hưởng của Tam Quốc diễn nghĩa. Sang thế kỷ XVIII xuất hiện dấu hiệu của tiểu thuyết tài tử – giai nhân với sinh hoạt đời thường. Tiểu thuyết Thái Phượng cảm biệt khúc kể chuyện nàng Thái Phượng tài hoa đang xem lá đỏ trong vườn nhà thì bị chàng thư sinh Trương Bật Thành nhìn trộm qua bức tường lở. Sau đó Trương nhặt được chiếc khăn tay của nàng đánh rơi, đề thơ tỏ tình gửi tặng, rồi sau hai người yêu nhau, gặp trắc trở rồi đoàn viên. Tác phẩm này vay mượn một số tình tiết từ truyện Vương Kiều Loan bách niên trường hận trong tập Kim cổ kỳ quan(9). Đặc biệt là Truyện Xuân Hương, một truyện kể dân gian do Thân Tại Hiếu (1812-1884) chỉnh lý tạo thành tác phẩm văn học viết nổi tiếng. Chàng Lý Mộng Long tài hoa, con quan, một hôm đi chơi trên Quảng Hàn Lâu nhìn thấy Xuân Hương chơi đánh đu liền say đắm. Xuân Hương là con gái một kỹ nữ, tài mạo song toàn. Nhờ đứa hầu lo liệu, hai người đã gặp nhau, yêu nhau rất hạnh phúc và hứa cùng nhau trọn đời. Sau vì thân phụ của Lý được thăng quan đi trị nhậm nơi khác, Lý phải đi theo, quan huyện mới muốn chiếm Xuân Hương, bị nàng từ chối, đã tìm mọi cách hãm hại. Sau nhờ Lý mưu mẹo trừng trị quan huyện, hai người được sống hạnh phúc(10). Trong truyện này, cách kể, cách miêu tả, pha trộn thơ đều giống truyện tài tử – giai nhân ở khuynh hướng ước lệ và lý tưởng hoá, cách tả tình, sinh hoạt tình yêu giống tiểu thuyết Oanh Oanh truyện của Nguyên Chẩn, nhưng đậm đà chất thơ dân gian hồn nhiên trong các chi tiết tình dục. Truyện ca ngợi tình yêu tự do, chống áp bức cường quyền.

Từ thế kỷ X, Nhật Bản có tiểu thuyết nổi tiếng Ghendimônôtagari (Truyện Ghendi), trong đó vua tự coi là nòi tình, còn người đẹp là giai nhân. Nòi tình chuyên sủng ái giai nhân, giai nhân bị gièm pha mà chết, ít nhiều có ý vị của tư tưởng hồng nhan bạc mệnh. Từ thời Ghengôku (thế kỷ XVII – XVIII) về sau, xuất hiện loại tiểu thuyết Nhân tình (Ningiôbôn), một loại tiểu thuyết tình chuyên kể chuyện tình ái mỹ mãn đời thường giữa một đàn ông với nhiều phụ nữ, đậm đà màu sắc phong tục. Cuối thế kỷ XVIII Kim Vân Kiều truyện được dịch sang tiếng Nhật với nhan đề Tú tượng thông tục Kim Kiều Truyện, người dịch được phỏng đoán là Tây Điền Duy Tắc. Cũng vào thời gian đó, nhà tiểu thuyết Bakyn đã sử dụng cốt truyện cuả Kim Vân Kiều truyện để biến nó thành một tiểu thuyết đạo đức.

Ảnh hưởng của tiểu thuyết tài tử – giai nhân Trung Quốc đối với văn học Việt Nam có thể nói đậm nét hơn cả. Trong danh mục 106 truyện Nôm hiện còn do Kiều Thu Hoạch cung cấp(11) chúng tôi thấy có 8 truyện có gốc là truyện tài tử – giai nhân, chiếm gần 1/10. Trong danh mục 316 tiểu thuyết Trung Quốc các loại được dịch ra tiếng Việt từ đầu thế kỷ XX đến nay do Nhan Bảo cung cấp(12), chúng tôi thấy có 16 tập tiểu thuyết tài tử – giai nhân, chiếm 1/20. So với tổng số 50 bộ đã nói ở trên thì sự tiếp nhận như vậy không phải là ít. Hiện tượng này có cơ sở trong khuynh hướng nhà nho tài tử cũng như thơ văn tài tử khởi đầu từ Phạm Thái, Nguyễn Du và kéo dài cho đến đầu thế kỷ XX(13), gắn liền với sự suy thoái của tư tưởng chính thống và sự thức tỉnh của ý thức cá nhân trong xã hội thời kỳ này. Nhà Nguyễn cũng là một triều đại thống trị hà khắc đối với trí thức, do vậy nổi lên khuynh hướng thương tài và mong mỏi công danh phú quý, một tư tưởng được thể hiện trong tiểu thuyết tài tử – giai nhân. Truyện tài tử – giai nhân được vay mượn sớm nhất là Định tình nhân, Truyện Song Tinh của Nguyễn Hữu Hào (mất năm 1713) cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII là diễn Nôm từ truyện này. Tác giả Nguyễn Hữu Hào cũng từng bị cách chức làm dân thường. Khi diễn Nôm ông đã lược bớt một âm mưu và các chi tiết về đời sống vợ chồng trong phòng riêng, nhưng ca ngợi tình yêu tự do. Các truyện khác, theo tài liệu của Kiều Thu Hoạch là: Hoa tiên truyện, Bướm hoa tân truyện, Bình Sơn Lãnh Yến diễn âm, Hảo cầu tân truyện diễn âm, Ngọc Kiều Lê tân truyện, Song Phượng kỳ duyên, Tây sương truyện, Nhị Độ Mai, Truyện Kiều, Lục Vân Tiên. Ta có thể nhận thấy sự tiếp nhận loại tiểu thuyết tài tử – giai nhân gắn liền với nhu cầu giải phóng cá tính, tình yêu tự do đã tạo thành một loại truyện Nôm tài tử – giai nhân trong văn học Việt Nam. Trong số này phần nhiều tác phẩm chỉ diễn Nôm, và đều giản lược nhiều tình tiết, chi tiết so với nguyên tác. Truyện Song Tinh bỏ hẳn 3 hồi, tóm lược 2 hồi rưỡi trong tổng số 16 hồi. Truyện Ngọc Kiều Lê tóm lược 2 hồi rưỡi trong tổng số 16 hồi. Truyện Ngọc Kiều Lê tóm lược 6 hồi trong tổng số 20 hồi. Chủ đề chống gian thần, đề cao trung hiếu, đức hạnh đã che mờ cốt truyện tài tử – giai nhân trong Nhị Độ Mai và Lục Vân Tiên. Khác với môtip trai gái gặp nhau trong cuộc dạo chơi thường thấy ở tiểu thuyết tài tử – giai nhân, ở hai truyện này trai gái gặp nhau trong cơn hoạn nạn. Ngoài điểm này ra, nhiều điểm khác đều giống với tiểu thuyết tài tử – giai nhân. Cô gái bị ép gả ra nước ngoài, phải tự vẫn trên đường đi, chàng trai đỗ trạng nguyên hoặc lập công lớn trong cuộc đánh dẹp ngoại xâm để trở về đoàn tụ. Do sự giống nhau về cốt truyện mà có ý kiến xem Lục Vân Tiên cũng là sự mô phỏng của Trung hiếu tiết nghĩa Nhị Độ Mai toàn truyện, nhất là mô phỏng tác phẩm Nhị Độ Mai bản Mộc Ngư thư ở Quảng Đông(14).

READ  Câu 2 trang 231 SGK Sinh học 12 nâng cao

Nhiều truyện Nôm tiếp thu cách miêu tả đời thường và thể hiện tâm lý của tiểu thuyết tài tử – giai nhân. Chẳng hạn, trong Truyện Song Tinh có đoạn kể khi đoàn tụ Nhụy Châu tò mò hỏi Thể Vân về chuyện trong phòng ngày cưới:

“Nàng rằng: Ngày đẹp hoa phòng

Đào thơ gặp trận gió giông thế nào?”

Vân rằng: “Khát đứng bờ ao

Đói ăn bánh vẽ, chiêm bao thấy vàng.

Đèn soi hang tối không tường

Dép xuyên khăn sửa lẽ thường ai sui”.

Nàng rằng: “Vui miệng hỏi chơi

Ghen tuông chi đó, nỡ lời man nhau

Cá hang khi gặp nước sâu

Dễ ai cấm đặng đâm đầu vẫy đuôi”.

Vân rằng: “To chỉ nhỏ mồi

Cá khôn linh tính lội xuôi chẳng dừng

Có ưng? Không nghĩ cũng ưng

Bây giờ hầu dễ đãi đằng ai tin”.

Đối đáp rất tinh tế, phù hợp tâm lý. Tiểu thuyết tài tử – giai nhân Trung Quốc sở dĩ ảnh hưởng không nhỏ tới văn học Việt Nam, ngoại trừ tư tưởng giải phóng cá tính, tình yêu tự do nói trên, còn bởi nó là một dòng văn học thông tục đại chúng mang thị hiếu thị dân. Điều này cũng giống như Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu, một tập truyện thông tục viết về đời thường ở đầu thế kỷ XV đã có ảnh hưởng sâu rộng tới văn học Triều Tiên (tập Kim ngao tân thoại của Kim Thời Tập, 1434-1493), văn học Nhật Bản (tập Ngự già tỳ tử của Thiển Tĩnh Liễu Ý, 1611-1690), văn học Việt Nam (tập Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, thế kỷ XVI). Các bộ tiểu thuyết lịch sử đồ sộ như Tam Quốc diễn nghĩa không dễ gây ảnh hưởng đối với sáng tác, trái lại loại thông tục, gần gũi đã kích thích tâm lý mô phỏng để sáng tạo tác phẩm cùng loại.

Trong số tiểu thuyết tài tử – giai nhân của Trung Quốc, Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân tỏ ra trội hơn vì mấy điểm sau: Một là truyện nhấn mạnh nhiều tới quy luật tài mệnh tương đố (qua lời nhân vật Vương Thuý Kiều, lời bình của Kim Thánh Thán(?), lời tựa của Thiên Hoa Tàng chủ nhân). Hai là có một cốt truyện hay, nhiều sự biến giày tía vò hồng, thể hiện tư tưởng may rủi biến ảo khôn lường ở đời. Chơi xuân gặp mả Đạm Tiên tưởng rủi, sau gặp Kim Trọng lại may. Hai người yêu đương thề ước tưởng may, nhưng gia biến lại rủi. Bán mình làm thiếp vừa dẹp yên tai nạn của cha, vừa cam bề lẽ mọn, hoá ra bị lừa. Hy vọng nhờ tay Sở Khanh cứu thoát, hoá ra bị lừa lần nữa, phải chịu tiếp khách. Lấy Thúc Sinh, tưởng sống được yên trong phận lẽ mọn, nhưng lại gặp Hoạn Thư cay nghiệt. Lấy Bạc Hạnh để giải thoát nhưng lại bị lừa. Theo Từ Hải được vinh hiển, nhưng ngầm chứa tai hoạ, vì Từ chống lại triều đình. Theo Hồ Tôn Hiến tưởng vinh thân phì gia lại bị lừa thêm lần nữa. Chết nhưng rồi được cứu. Đoàn viên nhưng dang dở. Cốt truyện hàm chứa nội dung triết lý. Ba là bút pháp miêu tả tâm lý, khai thác nội tâm, ngôn ngữ độc thoại mặc dù còn thiếu nhất quán, nhưng với tư cách là một thủ pháp thì khá mới mẻ, đáng chú ý.

Chắc chắn rằng việc lựa chọn của Nguyễn Du không phải ngẫu nhiên. Kiểu sáng tác trung đại không bắt buộc nhà văn tự sáng tạo ra cốt truyện của mình. Nếu không có cốt truyện Kim Vân Kiều truyện, hẳn Nguyễn Du không dễ sáng tạo ra được một cốt truyện tương xứng với tư tưởng của ông. Nhưng nếu không có Nguyễn Du thì Truyện Kiều không có và sẽ ít ai nhắc tới Kim Vân Kiều truyện. Việc Nguyễn Du sử dụng Kim Vân Kiều truyện còn chứng tỏ nhà văn vĩ đại có thể hoà vào văn học đại chúng thông tục, nhưng vươn cao hơn hẳn về tầm triết lý và nghệ thuật.

Đặt Truyện Kiều trong truyền thống tiểu thuyết tài tử – giai nhân không phải để xem nó thuần tuý như một tiểu thuyết tài tử – giai nhân. Ông Phó Đạo Bân khi làm Tinh tuyển tiểu thuyết tài tử – giai nhân Trung Quốc (Cáp Nhĩ Tân XB xã, 1994) đã không tuyển Kim Vân Kiều truyện do nội dung thế tình của nó.

Đặt Truyện Kiều vào dòng tiểu thuyết tài tử giai nhân để dễ dàng nhận thấy rằng: 1.Tiểu thuyết tài tử giai nhân đã kích thích ở các nhà văn Việt Nam đương thời khát vọng tình yêu đôi lứa, lòng yêu thương những kẻ tài tình, mà thực chất là con người cá nhân trong xã hội phong kiến. 2. Nguyễn Du rõ ràng có khuynh hướng khẳng định con người cá nhân, tình yêu đôi lứa và hơn nữa thể hiện cảm hứng quí phái, sang trọng. 3. Nhưng đồng thời không nên đồng nhất Đoạn trường tân thanh với tiểu thuyết tài tử giai nhân, bởi giữa chúng có nhiều điều khác biệt.

(1) Xem Truyện Song Tinh, Hoàng Xuân Hãn phiên âm, giới thiệu, NXB Văn học, Hà Nội, 1987, tr.22.

(2) Xem Ngọc Kiều Lê, Trần Văn Giáp phiên âm, Kiều Thu Hoạch giới thiệu, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976.

(3) Lư Hưng Cơ, Tiểu thuyết nhân tình lên ngôi. Trong sách: Thế giới nghệ thuật thần quái tình hiệp, Trình Nghị Trung soạn, NXB Trường Đảng Cộng sản Trung Quốc, Bắc Kinh, 1994, tr.221.

(4) Châu Vĩ Dân. Bàn về tư tưởng thẩm mỹ của Thiên Hoa Tàng chủ nhân. Trong sách: Nghiên cứu lý luận văn học cổ điển tùng san, T.12, Thượng Hải, 1987, tr.341.

(5) Chưa rõ tên thật là ai, có người nói là người đời Minh, người thì nói là Từ Chấn – xem bài Châu Vĩ Dân.

(6) Các lời trích ý kiến của Thiên Hoa Tàng, nếu không chú riêng, đều rút từ bài của Châu Vĩ Dân, Tlđd.

(7) “Truyện Kiều” đối chiếu, bản dịch của Nguyễn Đình Diệm. NXB Hà Nội, 1991. tr.304-305.

(8) Xem sách: Việc miêu tả tình dục trong tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc của Mao Thuẫn, Phó Tăng Hanh… NXB Bách hoa văn nghệ. Thiên Tân, 1993.

(9) Tập truyện chọn từ Tam ngôn của Phùng Mộng Long, Nhị phách của Lăng Mông Sơ, do Bao Ông lão nhân thực hiện khoảng cuối Minh, đầu Thanh. Đây là truyện ở quyển thứ 34 trong tập Lời chung nhắc đời (Cảnh thế thông ngôn) của Phùng Mộng Long.

(10) Truyện Xuân Hương. Yang Soo Bae dịch, Đặng Thanh Lê giới thiệu, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994.

(11) Kiều Thu Hoạch, Truyện Nôm – nguồn gốc và thể loại, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993 (Danh mục truyện Nôm hiện còn, tr. 258-262).

(12) Nhan Bảo. Tlđd, tr.208-272.

(13) Trần Đình Hượu, Lê Chí Dũng, Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900-1930. NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1988, tr.251-252.

(14) Sách So sánh văn học Trung Quốc và văn học nước ngoài, cho tác phẩm này có gốc ở tiểu thuyết Trung Quốc, tr.319.